Lột da bằng hóa chất và các chất điều chỉnh sắc tố da

Lột da bằng hoá chất làm tăng nhanh quá trình tróc vảy, tạo ra các tế bào thượng bì, tổ chức sợi, collagen nhanh hơn do kích thích tế bào sinh sản da.

Lột da bằng hóa chất. Ảnh minh họa
Lột da bằng hóa chất. Ảnh minh họa

Đại cương

Có nhiều nguyên nhản gây lão hoá da như tuổi, tia cực tím, tác động của môi trường như bụi, hoá chất độc, dinh dưỡng ..

Da là cơ quan lớn nhất của cơ thể, chiếm 20% trọng lượng cơ thể, với diện tích trên dưới 1m2. Về chức năng, da là cơ quan bảo vệ cơ thể, tham gia chuyên hoá, điều hòa thân nhiệt, tham gia miễn dịch…

Có nhiều phương pháp phòng chống ISO hoá da (đặc biệt da vùng mặt cổ) như tránh tia cực tìm, dinh dưỡng tốt…trong đó có lột da bằng các hoá chất vả các chất điều chỉnh sắc tố.

Vì vậy cần biết lột da là gì? Tại sao phải lột da, hoá chất nào được sử dụng, độ nông sâu khi lột, tính độc và biến chứng của nó. Ngoài ra, người thầy thuốc phải nắm vững cấu trúc, sinh lý, tính chất của da, phân loại da,…để sau lột da không gây biến chứng, đạt được các yêu cầu về thẩm mỹ, không ảnh hường đến chức năng. Về cơ chế, lột da bằng hoá chất tăng nhanh quá trình tróc vảy, tạo ra các tế bào thượng bì, tổ chức sợi, collagen nhanh hơn do kích thích tế bào sinh sản da.

Cấu trúc và sự phát triển của da bình thường

Da có 3 lớp

  • Thượng bì
  • Trung bì
  • Hạ bì

Thượng bì

Dày từ 0,4 – l,5mm (so với độ dày của da là 1,5 – 4mm) luôn luôn tự đổi mới. Thượng bì là lớp biểu mô sừng xếp từng lớp (80%), ngoài ra còn có các tế bào sắc tố (còn gọi là tế bào sáng chiếm 4 – 5%), tế bào Langerhans, tế bào Markel.

Thượng bì là nơi đi qua của các phần phụ da như nang lông, tuyến bã, tuyến huy cực/apocrine (ở vùng nách và sinh dục), tuyến mồ hôi.

Trung bì

Chứa các thành phần phụ của thượng bì được bao quanh bởi các mô liên kết, các mạch máu, thần kinh và các tế bào khác như Mastocyte, tế bào sợi non, đại thực bào, cơ dựng lông.

– Trung bì được chia làm 2 lớp:

  • Nhú bì hay nhú trung bì
  • Lưới trung bì

Mô liên kết bao gồm các sợi Collagen (chiếm 75% trọng lượng khô của da), sợi chun (liên kết chặt chẽ với sợi Collagen, chiếm 2-4% tổng thể tích da) được tổng hợp bởi các tế bào sợi non và tế bào cơ trơn.

 Hạ bì

Chủ yếu là mỡ

Cấu tạo của da gồm 3 lớp: Thượng bì, trung bì và hạ bì. Ảnh minh họa

Phân loại nhóm da và mức độ tổn thương do tia cực tím

Đến nay, phân loại da được sử dụng rộng rãi nhất để lột da bằng hóa chất là phân loại của Fitzpatrick. Nó cho thấy khả năng, mức độ bắt nắng (rám nắng), bỏng da bệnh nhân tiếp xúc với ánh sang mặt trời (tia cực tím/ultra violet light). Cách phân loại này sẽ giúp người thầy thuốc xác định, tiên liệu được khả năng đáp ứng của da khi lột da bằng hóa chất, sẽ tốt hơn hay rủi ro cao hơn, nguy cơ tăng sắc tố hơn bình thường sau lột.

Phân loại theo Fitzpatrick

Loại daMàu daĐặc điểm khi bắt nắng
ITrắngRất hay bị bỏng, không bao giờ bị rám
IITrắngThường bị bỏng, rám nắng ít hơn mức trung bình
IIITrắngThỉnh thoảng bị bỏng nhẹ, rám nắng ở mức trung bình
IVTrắngÍt khi bỏng nắng, rám hơn mức trung bình
VNâuHiếm khi bỏng nắng, dễ rám
VIĐenKhông bao giờ bỏng, nhiễm sắc tố sâu

Phân loại theo cách này dễ dàng cho thầy thuốc khi hỏi bệnh nhân: “Điều gì sẽ xảy ra khi anh/chị tiếp xúc với ánh sang mặt trời?”. Nói chung, các nhóm da từ I đến III hầu như không bao giờ bị tăng sắc tố sau viêm, hoặc sau lột da bằng hóa chất. Vì vậy những bệnh nhân có da thuộc nhóm I, II, III có kết quả rất tốt sau khi lột da bằng hóa chất.

Các nhóm bệnh nhân có nhóm da IV, V, VI dễ có nguy cơ tăng sắc tố sau viêm do lột hóa chất hơn là 3 nhóm trên.

Phân loại da theo Richard Glogau (Dựa vào các biểu hiện lâm sàng)

Mức độ tổn thươngBiểu hiện nếp nhănĐặc điểm
Nhóm loại I (nhẹ)Không có nếp nhăn rõRám ở giai đoạn sớm: Thay đổi sắc tố da (tăng) nhẹ. Không có sừng hóa (dày sừng). Các nếp nhăn da ít (20-30 tuổi). Ít sẹo trứng cá
Nhóm loại II (trung bình)Xuất hiện các nếp nhăn, nhưng còn thay đổi khi thay đổi nét mặtTừ giai đoạn sớm là trung bình. Các tàn nhang, đồi mồi tuổi tác xuất hiện có thể nhìn thấy. Sừng hóa xuất hiện khi sờ, nhưng không nhìn thấy. Các nếp nhăn xuất hiện khi cười (30-40 tuổi).
Nhóm III: tiến triển trên mức trung bìnhNếp nhăn rõLoạn sắc tố, giãn mao mạch. Sừng hóa thấy rõ. Bệnh nhân ≥ 50 tuổi. Sẹo trứng cá khá rõ, sau khi trang điểm vẫn không hết.
Nhóm IVNếp nhăn rất rõLão hóa do quang tuyến nặng: Màu da sạm, vàng, đồi mồi, tuổi già. Bệnh nhân: 60-70 tuổi. Sẹo lõm trứng cá xuất hiện rõ.

Hệ thống phân loại theo Glogau giúp chúng ta so sánh một cách khách quan hơn hiệu quả các phương pháp điều trị khác nhau đối với một nhóm da nào đó. Cái khó là khi kết hợp điều trị có hiệu quả bởi các ý do:

  • 3 loại tổn thương trên cùng 1 nhóm da như sẹo trứng cá, nếp nhăn, dày sừng do ánh sáng.
  • Phân loại các bệnh nhân theo cách sử dụng mỹ phẩm hóa trang (makeup) mà điều đó thì rất khác nhau giữa các bệnh nhân.
  • Không biết độ nông sâu của rối loạn sắc tố để “lột” vừa đủ (loại bỏ được sắc tố mà không gây sẹo hoặc không có kết quả).

Ví dụ: Phụ nữ 45 tuổi có nhiều chỗ dày sừng do ánh sáng mà hầu như không có nếp nhăn, vậy người đó thuộc da nhóm I hay III?

Phân loại da theo mức độ tổn thương do ánh sáng (tia cực tím)

Mức 1

Các dấu hiệu lâm sàng chỉ ra sự thay đổi của lớp thượng bì, xuất hiện không bình thường về sắc tố và cấu trúc, biểu bì:

  • Vết tàn nhang, nốt ruồi, màu xám.
  • Cấu trúc da gồ ghề do tăng độ dày của lớp sừng ở thượng bì.

Mức 2

Các dấu hiệu lâm sàng cho thấy có sự thay đổi ở thượng bì, nhú chân bì và biểu hiện không bình thường sắc tố da, có đầy đủ các dấu hiệu ở mức 1 nhưng kèm theo dày sừng do ánh sáng. Thay đổi cấu trúc da và tăng sắc tố rõ hơn, sừng hóa do ánh sáng, đồi mồi tuổi già và sừng hóa tuyến bã rõ hơn. Các nếp nhăn xuất hiện rõ vùng quanh hốc mắt, rãnh mũi môi và ở những vùng này thường teo, nhăn da.

Mức 3

Các dấu hiệu lâm sàng xuất hiện do những thay đổi ở lớp thượng bì, nhú chân bì và hệ thống lưới của nhú chân bì. Mức 3 là mức nặng nhất trong tổn thương da do ánh sáng. Ngoài các dâu hiệu lâm sàng của mức 1, 2, nếp nhăn da rõ hơn, nhiều hơn, da ngả màu vàng.

Tổn thương da do ánh sáng. Ảnh minh họa

Các chất lột da thường dùng

  • Retmoic Acid (Reds A)
  • 5 – Fluorouracil (5-FU)
  • Jessner’s Solution
  • Resorcinol
  • Silicylic acid
  • Trichloroacetic acid (TCA)
  • Alpha Hydroxy acids (AHAs)
  • Alpha Keto adds (Pyrovic acid)
  • Phenol
  • Glycolic acid

Mức độ nông sâu của lột da

Rất nông, tróc vảy

Các hóa chất lột mỏng, nhẹ, chỉ làm bong lớp vảy sừng, không gây tổn thương ở lớp mạt sừng.

Lột nông

Hóa chất lột tạo được sự hoại tử một phần hoặc toàn bộ lớp thượng bì, từ lớp mạt sừng tới lớp tế bào đáy.

Lột trung bình

Là lột xuống nhú chân bì (Papillary dermal). Các chất lột thấm qua thượng bì và một phần hay toàn bộ nhú chân bì.

Lột sâu

Tạo hoại tử như 2 mức trên và xuống dưới chân bì.

Phân loại độ nông sâu theo từng hóa chất

Rất nông (của từng hóa chất riêng biệt)

  • Glycolic acid 30% đến 50%, 1 đến 2 phút.
  • Dung dịch Jessner 1-3 lớp (quét 3 lượt).
  • Resorcinol cỏ độ tập trung thấp 20 – 30%, 5-10 phút.
  • TCA 10% (quét 1 lượt) 1 lớp.

Lột nông (của từng hoá chất riêng biệt)

  • Glycolic 50% ->70% từ 2 đến 20 phút.
  • Dung dịch Jessner đắp 4 – 10 lớp.
  • Resorcinol 40% -> 50% 30 – 60 phút.
  • TCA 10 – 30% 1 lóp (không cần chất trung hoà).

Lột trung bình (từng hoá chất riêng biệt)

  • Glycolic 70% từ 3 – 30 phút.
  • TCA 35% đến 50%.
  • Gia tăng thêm TCA với các phối hợp khác:
  1. C02 + TCA 35%

2. Hoặc Jessner + TCA 35%

3. Hoặc Glycolic acid 70% + TCA 35%

Lột sâu (không nên sử dụng ở tuyến cở sở)

Phenol 88%

Công thức Phenol của Baker Gordon.

Độc tính của các hóa chất trong lột da

Đến nay, người ta cỏ thể khẳng định chung là: Những hoả chất dùng lột da không có Phenol ít gây rủi ro, biến chứng hơn là những chất có Phenol như Saiicilic acid và cũng đến nay chưa có báo cáo nào về biến chứng do lột TCA hoặc AHAs. Điều này không có nghĩa là các hóa chất này vô hại với các phản ứng của tổ chức da. Một vài trường hợp được báo cáo có phản ứng dạng mày đay khi lột TCA 35%.

Cần lưu ý khi lột da bằng hóa chất có Acid Salycylic: Không lột trên diện tích da rộng bằng dung dịch hoặc hồ vì:

  • Dung dịch Jessncr chứa 14% Salycilic acid. Nếu “bôi” ờ mặt, cổ, ngực, cánh tay tức là chiếm 25% diện tích cơ thể.
  • Hoặc nếu bôi dung dịch Salicylic acid 40% 3 lần, độ tập trung ngang với dung dịch Jessner.
Cần lưu ý khi lột da bằng hóa chất có Acid Salycylic. Ảnh minh họa

Đặc điểm, tính chất, tác dụng của một số hóa chất lột da thông dụng hiện nay

Trichloroacetic Acid (TCA)

– TCA không gây độc cho cơ thể (không độc toàn thân).

– Có thể dùng để lột nông, trung bình và sâu.

– Không đắt tiền.    

– Ổn định sau lột.

– Độ ngấm sảu của TCA liên quan với độ lạnh của da (càng lạnh càng khó ngấm sâu).

– Không cần chất để trung hoà khi lột bằng TCA.

Lưu ý: Nếu TCA có nồng độ > 40% dễ gây sẹo.

Đến nay, người ta cho TCA là chất lột đạt “tiêu chuẩn vàng” trong tất cả các hoá chất lột hiện có.

Dung dịch pha tiêu chuẩn:

– TCA 30g bột + nước cất l00ml. Ta có dung dịch 30%

– 30g TCA + 116ml nước, ta có dung dịch TCA 25,9%  

– 30g TCA + 88ml nước, ta có dung dịch TCA 34,1 %   

Dung dịch Jessner

* Công thức:

–    Salicylic acid 14g

–    Resorcinoi 14g

–    Lactic acid 14g (85%)

–    Ethanol 100ml

Lưu ý:

  • Phải bao quản kín trong lọ màu, tránh ánh sáng và không khí.
  • Thời gian: 2 năm (nếu nút không kín, có ánh sáng, sau 5 phút sẽ mất tác dụng).
  • Vì có Salicylic acid và Resorcinol nên dễ nhiễm độc.
  • Rất khó khi muốn lột sâu, nếu vô ý, sẽ tạo vết thương sâu.
  • Đặc điểm: Dung dịch Jessner có tác dụng làm tróc vảy thượng bì rất tốt nên nhiều bệnh nhân muốn được thực hiện phương pháp này.

Glycilic acid

Tác dụng:

  • Bệnh nhân chịu đựng tốt
  • Lột mỏng nhưng có tác dụng hiệu quả tốt.
  • Không độc cho cơ thể.

Lưu ý:

– Kết quả thu được và sự phản ứng, nhận xét khác nhau đối với từng bệnh nhân, tức kết quả thất thường.

– Không luôn luôn tạo được sự lột da thực sự.

– Cần phải có chất trung hoà trong quá trình lột.

– Nó có khuynh hướng ngấm sâu không kiểm soát được.

Lột bằng Salicylic Acid

* Công thức:

– Salicylic acid bột USP 50%

– Methv Salicylate 16 giọt

– Aquaphor 112g

• Đặc điểm:

–    Dễ thực hiện.

–    Tỷ lệ biến chứng thấp.

–    Khó ngấm sâu theo ý muốn.

–    Có tác dụng tốt với các vết đồi mồi, tàn nhang ở người cao tuồi (bàn tay, cánh tay).

*   Lưu ý:

  • Bệnh nhân không thoải mái khi phải băng trong 40 giờ.
  • Thời gian khỏi kéo dải.
  • Nhiễm độc Salicylic thường xảy ra.

Các điều chỉnh sắc tố da, chống lại tổn thương do tia cực tím

Tretinoin

Hay còn gọi là:    

  • Retinole Acid
  • Vitamin A acid

Biệt dược:  

  • Acid A Vit (Roche0)
  • Renova (Thái Lan)
  • Rctacnyl (Galderma)
  • Retin A (Pháp, Johnson)
  • Isotrex

Chú ý:       

  • Không dùng cho người có thai.
  • Không dùng với cồn, dầu.

Tretinoin được mô tả vả sử dụng cho người từ 1983. Tác dụng lên lớp thượng bì, trung bì. Nó làm cho tróc vảy lớp sừng, dày lớp hạt và giảm độ tập trung cùa Melanin.       

Ở lớp bì Tretinoin kích thích sự hình thành Collagen mới

Về lâm sàng:

  • Da mịn hơn.
  • Ít nếp nhăn hơn.
  • Mất màu vàng cùa da.
  • Tốt cho da bị tổn thương do ánh sáng.
  • Phân bổ sắc tố đều hơn trên da.

Tác dụng phụ của Tretinoin:

  • Đỏ da do phản ứng.
  • Tróc mảng da.

Để phòng tác dụng phụ trên: Tăng nồng độ dần: 0,025% ; 0,05% ; 0,1%

Vitamin C

Trong những năm qua Vitamin C đã được nghiên cứu một cách rộng rãi về khả năng chống lại tuổi tác của nó.

• Cơ chế: Vitamin C kích thích khả năng sinh tổng hợp collagen. Nó thu nạp được các gốc tự do vả có khả năng bảo vệ ánh sáng.

Độ tập trung trên da của Vitamin C thấp. Tại chỗ có được 1 công thức ổn định là khó một vài hãng thuốc đưa ra tên thương mại là Acid Ascorbic, nhưng yêu cầu phải được ổn định.

Kết hợp : Tretinoin (tối) + Vit C (sáng) với bệnh nhân chịu được Tretinon sẽ cho kết quả tốt.

Vitamin C có thể được lựa chọn đầu tiên cho vùng quanh mắt khi Tretinoin gây kích thích.

Vitamin C kích thích khả năng sinh tổng hợp collagen. Ảnh minh họa

Hydroxy acids

  • Hợp với bệnh nhân da bã nhờn.
  • Dấu hiệu lão hoá sớm.
  • Cải thiện cấu trúc da bã nhờn (da dầu).
  • Lỗ chân lông rộng và các mụn trứng cá.
  • Có thể kết hợp với Tretinoin.

Chú ý: Bệnh nhân da dầu thì ít nhạy cảm với tác dụng phụ gây kích thích của Tretinoin.

Hydroquinone

Hydroquinone và các chất tẩy trắng khác như Kojic acid là những chất đã được thương mại hoá trong nhiều năm qua. Nó có thể là một sự phụ giúp trong điều trị các rối loạn sắc tố do ánh sáng. Tác dụng làm trẻ hoá da cũng hạn chế.

Thẩm mỹ bằng dinh dưỡng

Một hiện tượng khác gần đây là ồ ạt bổ sung dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn hoặc các thuốc, chất dinh dưỡng dưới dạng thực phẩm chức năng với tác động được cho là trẻ hoá da.

Các hỗn hợp Vitamin, các chất khử gốc tự do các riboflavine, chất chống oxy hoá là các chủ đề nghiên cứu và đầu tư trong những năm tới.

Bác sĩ Vương Chiến